slide homeslide homehome-slide

TIN TỨC

Bệnh nấm phổi trên vịt

 

Bệnh thường nặng ở giai đoạn dưới hai tuần tuổi nhưng đôi khi cũng xảy ra trên vịt lớn và gây chết rải rác. Do vịt có triệu chứng khó thở nên người nuôi dễ nhầm lẫn với các bệnh đường hô hấp khác, ngoài ra bệnh nấm phổi thường có kế phát một số bệnh khác như bệnh bại huyết do Riemerella anatipestiferE.coli, thương hàn... nên việc chẩn đoán và điều trị rất khó khăn.

Dưới đây chúng tôi mô tả nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích, phác đồ điều trị bệnh nấm phổi và một số bệnh kế phát trên vịt.

Nguyên nhân:

Do nấm Aspergillus fumigatus gây ra. Bào tử của nấm Aspergillus được tìm thấy trong không khí, nước, đất, cây cỏ mục nát, phân, chất lót chuồng, thức ăn có nguồn gốc động vật, thực vật. Đặc biệt trong thóc, lúa, bắp, đậu, rơm rạ,... tuy thấy khô nhưng có thể chứa rất nhiều bào tử nấm. Nấm phát triển tốt ở nhiệt độ 24-28oC. Chúng sản sinh ra độc tố aflatoxin gây tổn thương gan có thể dẫn đến ung thư ngay khi với hàm lượng rất thấp. Độc tố có thể ở dạng gây kích thích nhẹ trên da đến phá hủy nặng nề các tế bào cơ thể (tế bào thần kinh, tế bào máu) gây co giật, liệt, cuối cùng là chết.

Đặc điểm phát sinh, phát triển bệnh:

Qua không khí, các bào tử nấm có thể xâm nhập vào phổi và túi khí của vịt qua bụi hít từ mũi, khí quản. Bệnh sẽ nặng hơn khi con vật đang ở trạng thái sức đề kháng bị giảm. Bệnh có thể truyền ngay từ trong máy ấp: có thể từ trứng nhiễm nấm hoặc máy ấp không đảm bảo điều kiện vệ sinh. Bệnh có thể lan truyền từ chất độn chuồng có nhiễm nấm hoặc từ thức ăn cũ có nấm. Sau khi vào cơ thể vịt, nấm có thể kí sinh ở khí quản, phổi gây tác động tại chỗ, gây viêm phổi cấp tính hay tạo thành các nốt nấm trong nhu mô phổi. Dần về sau bào tử nấm phát triển thành nhiều sợi nấm, thúc đẩy quá trình viêm nhanh hơn. Dưới phản ứng viêm của cơ thể, bào tử, sợi nấm bị phá hủy và giải phóng nhiều độc tố theo đường dịch thể gây nhiễm độc cho vật chủ.

Triệu chứng bệnh:

Khó thở, thở hổn hển, thở gấp, bại chân. Khi bệnh kết hợp với các bệnh khác (bại huyết do Riemerella anatipestifer, E.coli,...) thì vịt thường có các triệu chứng thần kinh như quay vòng , run giật, dễ té ngã, bại chân, vịt không thể đi được và sự hít vào khó khăn, thở kháp, âm đục, mở to mũi và mắt với nhiều dịch tiết.

Trường hợp cấp tính thường xảy ra ở vịt từ 4 ngày tuổi với tỷ lệ chết cao, đôi khi cũng xảy ra trên vịt lớn ở 1-2 tháng tuổi. Triệu chứng đặc trưng là vịt khó thở nên phải vươn dài cổ và há mồm ra khi thở. Giảm ăn, viêm kết mạc mắt, mí mắt sưng, mắt chảy nhiều dịch. Bên trong xoang miệng có những bựa trắng bám đầy, xoang mũi cũng có những nốt nấm màu trắng đục. Vịt thường không ăn được, khát nước và chết sau 24 -48 giờ.

Thể mãn tính thường xảy ra trên vịt lớn và vịt đẻ. Vịt ủ rũ, giảm ăn, uống nhiều nước, có dấu hiệu thở khó, tiêu chảy, phân dính bết vào hậu môn màu hơi xanh, lóng lánh (phân có mỡ) chảy nước mắt, nước mũi, viêm kết mạc mắt. Giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, lười bơi, chân bại hoặc không đi được, đói, khát, gầy yếu dần dẫn đến chết. Thường tỷ lệ chết thấp, nhưng khi kế phát bệnh bại huyết do Riemerella anatipestifer hay E.coli, thương hàn… thì tỷ lệ chết tăng cao.

Các triệu chứng điển hình của bệnh nấm phổi trên vịt

Bệnh tích

Bên trong xoang miệng có nhiều bựa trắng, xoang mũi có thể có ké nấm. Các túi khí trở nên dày hơn, có màu mờ đục, các u hạt gia tăng về kích cỡ và thay đổi về hình dạng từ hạt tròn lồi (1mm) sang phẳng hoặc hình mảng lõm ở giữa (2-5 mm) có xu hướng kết lại thành khối.

Khí quản sần sùi, bám rất nhiều nốt casein màu vàng gây cho vịt khó thở, và khi thở có tiếng rồ rồ (do không khí đi qua các khe hẹp), mệt nhọc.

Phổi có các hạt ké nấm như hạt tấm, màu trắng, xung quanh có dịch viêm vàng, cắt ké thấy có cục casein. Phổi bị viêm u hạt, dần mất màu, phù nề tích dịch. Nếu bệnh kéo dài phổi trở nên dai cứng và gan hóa dần dần, không còn tính đàn hồi, bỏ vào trong nước phổi chìm.

Các nốt nấm cũng có thể xuất hiện trong xoang ngực, xoang bụng, các cơ quan nội tạng khác: tim, gan, lách, ruột, cơ, khớp,.... Gan bị phù, tích nước trên bề mặt gan, rìa gan vàng và một bên gan phì đại, một bên gan bị teo. Khi nhiễm lâu và nặng, trên gan xuất hiện các hạt lấm tấm màu trắng ngà khi nuôi cấy trên môi trường Sabouraud thì nấm phát triển rất nhiều. Lách hơi sưng, ruột có thể loét, dạ dày xuất huyết, ...

Những nơi bị nấm bám đều gây tác động tại chỗ (viêm, loét, tê, bại,...). Nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh khác nhau xâm nhập vào vịt bệnh. Ngoài ra độc tố nấm còn tác động toàn thân trên vịt.

 Ứng dụng chế phẩm sinh học EM nhật trên Vịt đẻ sẽ giúp giảm mùi hôi phân, tăng sức đề kháng, phòng bệnh chủ động, giảm thức ăn.

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email
Liên Kết

CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ SINH HỌC XANH
Địa chỉ:  B1.04.04 Cao Ốc Giai Việt, 856 Tạ Quang Bửu, P. 5, Q. 8, TP. HCM
Điện Thoại: (08) 3980 5612 - (072) 3738 647

Email: gbt.offices@gmail.com - Website: greenbiotech.vn,greenbiotech.com.vn

 

© Copyright 2008 GREEN BIOTECH. All rights Reserved

Design Thiet ke Web By Vihan